Dịch tễ học phân tích
Kiểu nghiên cứu
Có cách thức khác nhau của những nghiên cứu dịch tễ học, và những nhà dịch tễ học phải chọn cách thức thích hợp, dựa trên hoàn cảnh. Nếu những nhà dịch tễ học không chọn một nghiên cứu thích hợp, họ có thể gặp khó khăn trong việc thực hiện nghiên cứu, và họ có thể không kết luận với dữ liệu liên quan . Thời gian và tiền hạn chế là những nhân tố phải được tính đến khi chọn kiểu nghiên cứu để làm. Có ba kiểu chung (của) những nghiên cứu; chéo- từng phần, nhóm, và kiểm soát trương hợp.
Nghiên cứu cắt lớp:
Nghiên c?u cắt lớp là những nghiên cứu mà thông tin về bệnh và biểu hiện được thu thập từ một nhóm dân cư không chỉ định (những người tham gia không được chọn theo những tiêu chí xác định). Về cơ bản là tương tự với một cuộc khảo sát.
ưu điểm:
- Đơn giản và không đắt để thực hiện - Không cần đi ra ngoài và tìm kiếm người dân với một chỉ định cụ thể và việc cần làm là hỏi người tham gia vài câu hỏi.
- Tốt trong việc tìm những mối quan hệ cơ bản giữa những nhân tố và bệnh.
Nhược điểm:
- Những nhân tố mà dữ liệu hiện ra liên quan đến bệnh không thật sự gây ra bệnh; nó có thể chỉ liên hệ với bệnh.
Nghiêu cứu đối chứng:
Trong những nghiên cứu kiểm soát trương hợp, những người tham gia nghiên cứu được lựa chọn dựa trên họ có căn bệnh đang được nghiên cứu trong người hay không. Thông tin về những biểu hiện hay những nhân tố khác được thu thập riêng rẽ từ hai nhóm, và sau đó so sánh để tìm những điểm khác nhau quan trọng.
ưu điểm:
- Phát hiện những yếu tố có thể đã làm cho ngươì dân phát triển bệnh.
- Hữu dụng để nghiện cứu những bệnh hiếm gặp- đây là bởi vì những người tham gia được lựa chọn bởi dựa trên liệu họ có bệnh hay không. (những kiểu nghiên cứu khác phụ thuộc vào một người tham gia phát triển một bệnh, và điều này có thể không xảy ra nếu bệnh hiếm gặp.)
- Nhanh, và không đắt (mặc dù nó yêu cầu nhiều thời gian và tài nguyên hơn nghiên cứu chéo-từng phần).
Nhược điểm:
- Khó khăn khi nghiên cứu những biểu hiện hiếm gặp. Nếu có nhiều hơn một nhân tố gây ra bệnh, những người tham gia với bệnh trong một nghiên cứu có thể không biểu hiện nhân tố hiếm gặp. Họ có thể chỉ biểu hiện một triệu chứng thông thường hơn có thể gây ra bệnh.
Nghiên cứu nhóm:
Trong một nghiên cứu nhóm, những người tham gia được lựa chọn dựa trên họ có bệnh hay không. Những người tham gia được giám sát liên tục (theo tuần hoặc theo năm, phụ thuộc vào bệnh ), để xem liệu họ có phát triển bệnh hay không.
ưu điểm:
- Phát hiện nhiều bệnh gây ra bởi một biểu hiện đơn- bởi vì kiểu nghiên cứu này giám sát người dân liên tục, vì vậy tất cả những hiệu ứng của hậu qủa đơn đềuđược ghi lại.
- Nghiên cứu những hiệu ứng (của) những biểu hiện hiếm gặp- bởi những người tham gia được lựa chọn theo họ có biểu hiện một nhân tố nhất định hay không.
Nhược điểm:
- Nghiên cứu nhóm đắt, và yêu cầu nhiều thời gian để chỉ đạo- bởi vì những bệnh nhân có thể phải được theo dõi trong một thời gian dài.
- Cần nhiều người tham gia- đây là để bảo đảm rằng ít nhất vài người dân trong cuộc nghiên cứu phát triển bệnh, vì vậy dữ liệu chính xác có thể được thu thập.
- Khó khăn khi nghiên cứu những bệnh hiếm gặp- bởi vì đã có thể có một cơ hội mà không ai trong số những người tham gia của cuộc nghiên cứu sẽ phát triển bệnh nếu nó hiếm gặp.