Ông Đoàn Triệu Nhạn là chủ tịch Hiệp Hội Cà Phê Ca Cao Việt Nam ViCOFA. Nói được ba ngoại ngữ là tiếng Anh, Pháp và Trung Quốc, con người vui tính thông minh này đã làm việc trong ngành cà phê hơn 40 năm. Một buổi chiều ở Hà Nội, tôi có vinh dự được gặp và trò chuyện với ông về cà phê...
Đáp: Chúng ta không thể phủ nhận rằng cà phê đã mang lại rất nhiều lợi ích cho người nông dân Việt Nam – đặc biệt cho những người thiểu số ở miền núi. Cà phê là cây lâu năm, nên trồng và chăm sóc cà phê khuyến khích họ định canh định cư, đỡ chặt phá rừng và bảo vệ môi trường. Cà phê mang lại cho họ công việc, giúp họ thoát cảnh đói nghèo.
Đáp: Nhiều người đã đặt ra vấn đề này trong các hội thảo quốc tế. Theo tôi, lỗi không chỉ có ở mỗi Việt Nam. Trong thời gian đó, Bra-zin cũng đã tăng lượng xuất khẩu. Tôi cũng không đổ lỗi lên Bra-zin – chúng ta không nên đổ lỗi cho bất kì ai cả. Mỗi nước đều có những nhu cầu, những chính sách riêng. Cuộc khủng hoảng ảnh hưởng tất cả mọi người, vì thế bây giờ chúng ta cần tập trung vào việc vượt qua khủng hoảng hiện tại và phòng tránh các cuộc khủng hoảng sau này. Còn về Việt Nam, chúng ta tăng sản lượng quá nhanh chóng, quá đột ngột, trong một thời gian ngắn. Điều này làm các bạn quốc tế ngạc nhiên, đặt câu hỏi, dẫn đến nghi ngờ – vấn đề đơn giản chỉ có thế.
Đáp: Có ba lý do chính. Một là Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc trồng cà phê. Hai là chính sách Đổi Mới của chính phủ thực hiện trong vòng 15-20 năm qua cho người dân quyền sử dụng đất. Với giá cao lại dễ trồng, cà phê thu hút nông dân. Và yếu tố thứ ba là người dân Việt Nam thông minh. Họ học cách trồng cà phê nhanh chóng và dễ. Cả ba yếu tố này đã làm lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam tăng vọt lên.
Chúng ta có thể thấy là việc tăng sản lượng này là hoàn toàn tự nhiên và do người nông dân. Chỉ có điều là chúng ta tăng quá nhanh, phong trào trồng cà phê lan quá rộng.
Đáp: Tất nhiên là thị trường cà phê sẽ hồi phục. Đây là một quá trình tự nhiên, là điều chỉnh của các cân cung – cầu. Trong tháng chín và tháng mười qua, những bức thư của ông Néstor Osorio – giám đốc của Tổ Chức Cà Phê Thế Giới phân tích thị trường, và nói rằng thời kỳ khó khăn nhất của khủng hoảng đã qua. Theo tôi, đã có một số dấu hiệu đáng mừng, nhưng cuộc khủng hoảng chưa hoàn toàn kết thúc. Thị trường cà phê thế giới chưa ổn định. Chúng ta có thể xem thời gian này giai đoạn cuối của cuộc khủng hoảng.
Đáp: Không, chúng ta chẳng cần chuẩn bị gì hết. Vì cà phê là cây lưu niên, người nông dân không nhổ cây đi khi giá xuống thấp. Cho nên khi giá cà phê tăng, họ lại đầu tư làm sống lại cây cà phê, và lượng sản xuất lại trở về như cũ.
Đáp: Có. Vùng Tây Nguyên của chúng ta có đất đỏ ba-dan màu mỡ, rất thích hợp với việc trồng Arabica. Chúng ta đang điều chỉnh đất trồng với mục tiêu là 20% cà phê xuất khẩu sẽ là Arabica và 80% là Robusta.
Đáp: Chúng ta đang hướng tới phát triển bền vững bằng cách tăng chất lượng cà phê và khuyến khích mọi người uống cà phê. Ở một số nơi, nhà nước khuyến khích người dân chuyển sang canh tác cây khác – chuyển dịch cơ cấu cân trồng. Những hành động này sẽ giúp ổn định thị trường cà phê trước mắt và về lâu về dài.
Đáp: Có, có một số khó khăn. Vấn đề chính với người nông dân là quá trình thu hoạch. Với giá nhân công tăng lên gấp ba lần trong những năm gần đây, người nông dân thường lựa chọn phương pháp tuốt hơn là hái từng quả, vì thế chất lượng quả cà phê bị ảnh hưởng. Ngoài ra còn có một nghịch lý nữa: trong khi người sản xuất muốn tăng chất lượng thì người tiêu dùng lại không muốn trả giá cao hơn xứng đáng với chất lượng này.
Đáp: Không – không có giới hạn xuất khẩu, nhưng chắc chắn sản lượng xuất khẩu trong năm tới sẽ thấp hơn các năm trước khoảng 20% do hạn hán.
Đáp: Không. ít nhất là không trong thời gian tới. Thị trường cà phê đặc biệt đòi hỏi phức tạp, khó đáp ứng được nhu cầu. Hiện tại chúng ta chỉ tập trung vào sản xuất cà phê chất lượng cao.
Đáp: Khoảng 500 000 hécta. Để tăng chất lượng, người dân ở những nơi đất không tốt đã được khuyến khích chuyển sang trồng cây khác. Bằng cách này, chúng ta dự tính sẽ giảm 10 – 15% diện tích đất trồng cà phê trong thời gian tới.
Đáp: Ngân Hàng Thế Giới ước lượng là ở Việt Nam có khoang 600,000 người trồng cà phê, và 200,000 người được thuê hái cà phê trong các vụ thu hoạch. Điều này có nghĩa là 400,000 gia đình – 2 triệu người phụ thuộc vào cà phê. Tất nhiên con số này là quá ít so với số người trồng lúa – khoảng 90% nông dân nước ta trồng lúa.
Đáp: Không! Đấy là ý tưởng của các nước Trung Mỹ. Họ đưa ra kế hoạch đốt cà phê hoặc dùng làm phân bón, và ước lượng là thiêu huỷ sẽ giúp giảm 5% lượng cà phê thế giới. Nhưng đấy là nói thế thôi. Đừng quên rằng 90% cà phê của Việt Nam được sản xuất và sỏ hữu bởi người nông dân. Làm sao tự nhiên đòi đốt cà phê của họ đi được? Trừ khi nhà nước bỏ tiền ra mua lại. Nhưng chúng ta không thừa tiền mua cà phê để đốt.
Đáp: Coca-Cola có hỏi về chuyện này, nhưng chúng tôi nói KHÔNG. Ở Việt Nam, cần tăng nhu cầu tiêu thụ cà phê trước khi sản xuất những thứ như thế.
Đáp: Hiện tại đã có hai nhà máy sản xuất cà phê đóng gói ở Việt Nam. Trên thế giới có rất nhiều tập đoàn rang xay nổi tiếng, họ có kiểu rang xay của họ, vì thế họ không cần cà phê rang xay của Việt Nam. Thêm vào đó, cà phê đã rang xay rất khó bảo quản, cần các dụng cụ bảo quản đặc biệt. Không – chúng ta không có ý định xuất khẩu cà phê tương lai.